Thứ Hai, ngày 18 tháng 12 năm 2017 - 12:29:40 AM

Trang chủ » Thông tin - Tuyên truyền » Đưa Nghị quyết Đảng vào cuộc sống
Đăng ngày: 01/12/2017 - 4:36:50 PM | Lượt xem: 346

Tìm hiểu về Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 về công tác dân số trong tình hình mới

Sự cần thiết ban hành Nghị quyết

Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở nước ta đã được tiến hành từ năm 1961 với Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 của Chính phủ về sinh đẻ có hướng dẫn. Tuy nhiên, trong nhiều năm chúng ta đều không đạt được những chỉ tiêu về dân số do các kỳ Đại hội Đảng đề ra[1]. Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về “Chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình” đề ra các quan điểm, mục tiêu, giải pháp đúng đắn, khoa học, huy động toàn hệ thống chính trị cùng đông đảo quần chúng nhân dân đồng lòng hưởng ứng, tích cực tham gia công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình. Nghị quyết đã thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra bước ngoặt thành công trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở nước ta. Nước ta đã đạt được mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu đề ra và khống chế thành công tốc độ tăng quy mô dân số, cải thiện đáng kể chất lượng dân số, góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Từ năm 1993 đến nay, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình liên tục được đề cập trong các văn kiện Đại hội Đảng. Ngày 22/3/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 47-NQ/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, đặt trọng tâm “phấn đấu sớm đạt được mục tiêu ổn định quy mô dân số, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dân số Việt Nam”. Ngoài ra, một số chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng có tác động trực tiếp đến công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình như: về phát triển kinh tế - xã hội; những quy định về xử lý đảng viên vi phạm; công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; xã hội hóa dịch vụ công; an sinh xã hội; giáo dục và đào tạo…

Đến nay, bối cảnh trong nước và quốc tế đã có nhiều thay đổi trên các lĩnh vực. Tình hình dân số của đất nước đã có những thay đổi rất cơ bản. Việt Nam đã đạt và liên tục duy trì bền vững mức sinh thay thế trong 10 năm qua. Một số tỉnh, thành phố có mức sinh thậm chí đã xuống khá thấp[2], có nguy cơ khó vực lên được như kinh nghiệm của một số nước phát triển. Nước ta đã bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007 và dự báo sẽ kéo dài đến năm 2041[3], đồng thời cũng đã bước vào thời kỳ già hóa dân số từ năm 2011 với tốc độ rất nhanh[4]. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tăng cao nghiêm trọng và ngày càng lan rộng[5]. Di cư diễn ra ngày càng phổ biến, vừa mang yếu tố tích cực, vừa có những mặt hạn chế. Chất lượng dân số tuy đã được nâng lên nhưng còn thấp so với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong quản lý dân số, việc đăng ký dân số và xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia thống nhất dùng chung phục vụ quản lý xã hội chậm được thực hiện[6].

Sau khi tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Kết luận số 119-KL/TW ngày 04/01/2016 với nội dung: “Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết 47, Việt Nam đã sớm đạt được và duy trì vững chắc mức sinh thay thế nên cần chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển để giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số (duy trì mức sinh thay thế, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, tận dụng cơ cấu dân số vàng, thích ứng với quá trình già hóa dân số, điều chỉnh phân bố dân số hợp lý và nâng cao chất lượng dân số) bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước”.

Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 về công tác dân số trong tình hình mới.

Cấu trúc của Nghị quyết gồm 4 phần sau:

- Tình hình và nguyên nhân.

- Quan điểm, mục tiêu.

- Nhiệm vụ, giải pháp.

- Tổ chức thực hiện.

1- Tình hình và nguyên nhân

Trung ương nhận định: Sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế thành công, đạt mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết đề ra và tiếp tục duy trì cho đến nay. Cơ cấu dân số chuyển dịch tích cực. Dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh. Từ năm 2007, nước ta bước vào thời kỳ dân số vàng. Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,4 tuổi năm 2016, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em giảm mạnh. Tầm vóc, thể lực người Việt Nam có bước cải thiện. Dân số đã có sự phân bố hợp lý hơn, gắn với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Công tác tuyên truyền, giáo dục, nhận thức về dân số và kế hoạch hoá gia đình của các cấp, các ngành và toàn dân có bước đột phá. Mỗi cặp vợ chồng có 2 con đã trở thành chuẩn mực, lan toả, thấm sâu trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình vẫn còn nhiều hạn chế như: Mức sinh giữa các vùng còn chênh lệch; Mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh, đã ở mức nghiêm trọng. Chưa có giải pháp đồng bộ phát huy lợi thế của thời kỳ dân số vàng và thích ứng với già hoá dân số. Người ít có điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con còn đẻ nhiều. Chỉ số phát triển con người (HDI) còn thấp. Tỉ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao. Tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khoẻ mạnh thấp so với nhiều nước. Tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn phổ biến ở một số dân tộc ít người. Phân bố dân số, quản lý nhập cư, di dân còn nhiều bất cập. Công tác truyền thông, giáo dục về dân số ở một số khu vực, nhóm đối tượng hiệu quả chưa cao, vai trò nhà trường còn hạn chế. Một số cơ chế, chính sách về dân số chậm đổi mới. Nội dung về dân số trong phát triển kinh tế - xã hội chưa được chú trọng. Nguồn lực đầu tư cho dân số, kế hoạch hoá gia đình còn thấp…

Những hạn chế, yếu kém trên do một số nguyên nhân chủ quan là chủ yếu là: Một số cấp uỷ, chính quyền chưa nhận thức đúng, đầy đủ về tính chất phức tạp, tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình; lãnh đạo, chỉ đạo chưa quyết liệt, chưa hiệu quả. Trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số vẫn còn nặng về kế hoạch hoá gia đình, chưa chú trọng về cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và tác động qua lại với phát triển. Tư tưởng muốn có nhiều con, trọng nam hơn nữ vẫn còn khá phổ biến trong một bộ phận nhân dân, kể cả cán bộ, đảng viên.

2- Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu

2.1- Quan điểm chỉ đạo

Gồm 5 quan điểm, cụ thể:

Thứ nhất, dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.

Thứ hai, tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững.

Thứ ba, chính sách dân số phải bảo đảm cân bằng, hài hoà giữa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân; giữa việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương pháp luật; giữa việc mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật mới với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.

Thứ tư, đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số.

Thứ năm, tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với trọng tâm công tác dân số trong từng thời kỳ, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp uỷ, chính quyền các cấp và sự quản lý chuyên môn, nghiệp vụ.

2.2- Mục tiêu

- Mục tiêu tổng quát: Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

- Mục tiêu cụ thể đến năm 2030:

+ Duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người. Giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng; 50% số tỉnh đạt mức sinh thay thế; mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại; giảm 2/3 số vị thành niên và thanh niên có thai ngoài ý muốn.

+ Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc có dưới 10 nghìn người, đặc biệt là những dân tộc có rất ít người.

+ Tỉ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỉ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%.

+ Tỉ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khoẻ trước khi kết hôn đạt 90%; giảm 50% số cặp tảo hôn, giảm 60% số cặp hôn nhân cận huyết thống; 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất.

+ Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi (thời gian sống khoẻ mạnh tối thiểu 68 năm); 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khoẻ, được khám, chữa bệnh, chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.

+ Chiều cao người Việt Nam 18 tuổi: nam đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm. Chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á.

+ Tỉ lệ dân số đô thị đạt trên 45%. Bố trí, sắp xếp dân cư hợp lý ở vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Bảo đảm người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản.

+ 100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên quy mô toàn quốc.

3- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

Gồm 7 nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác dân số. Thống nhất nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội về tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách từ tập trung vào kế hoạch hoá gia đình sang giải quyết toàn diện các vấn đề quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Đưa công tác dân số, đặc biệt là nâng cao chất lượng dân số thành một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp. Thực hiện lồng ghép có hiệu quả các yếu tố dân số trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của cả nước, của từng ngành, từng địa phương. Phát huy tối đa lợi thế dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số.

Tăng cường phối hợp liên ngành, phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể và cả cộng đồng trong công tác dân số. Phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng đối với từng ngành, từng cơ quan, đơn vị trong thực hiện các mục tiêu, giải pháp; đặc biệt là thực hiện các phong trào thi đua, cuộc vận động về công tác dân số, thực hiện nếp sống văn minh, lành mạnh, nâng cao sức khoẻ và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về công tác dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan toả sâu rộng trong xã hội.

Hai là, đổi mới nội dung tuyên truyền, vận động về công tác dân số

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nội dung truyền thông, giáo dục phải chuyển mạnh sang chính sách dân số và phát triển.

Tiếp tục thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con, bảo đảm quyền và trách nhiệm trong việc sinh con và nuôi dạy con tốt. Tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp.

Nâng cao nhận thức, thực hành về bình đẳng giới; đẩy mạnh truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tạo chuyển biến rõ nét ở những vùng có tỉ số giới tính khi sinh cao.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, khơi dậy phong trào mọi người dân thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao, có lối sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao sức khoẻ, tầm vóc, thể lực người Việt Nam. Nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về cư trú, về cấm tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

Đổi mới toàn diện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản trong và ngoài nhà trường. Hình thành kiến thức và kỹ năng về dân số, sức khoẻ sinh sản đúng đắn, có hệ thống ở thế hệ trẻ.

Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về dân số

Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân số gắn với xây dựng gia đình hạnh phúc. Rà soát, điều chỉnh hoặc bãi bỏ một số quy định về xử lý vi phạm trong công tác dân số; đồng thời đề cao tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chính sách dân số, xây dựng gia đình văn hoá, hạnh phúc. Nâng cao hiệu lực pháp lý trong quản lý và tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người dân, triển khai toàn diện các nội dung của công tác dân số. Kiện toàn hệ thống thanh tra chuyên ngành dân số, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm.

Rà soát, bổ sung các quy định về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi. Ngăn ngừa có hiệu quả việc lạm dụng khoa học - công nghệ để lựa chọn giới tính thai nhi. Đẩy mạnh công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Ban hành Chiến lược dân số trong tình hình mới; phát huy tối đa lợi thế cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững và thích ứng với già hoá dân số.

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; khuyến khích người cao tuổi tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội; xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động cao tuổi. Tích cực, chủ động xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi.

Rà soát, nâng cao chất lượng quy hoạch các đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, chủ động chuẩn bị các điều kiện để dân cư được phân bố tương ứng, phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của từng vùng và trong chiến lược tổng thể xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng với các dịch vụ xã hội cơ bản; hỗ trợ thoả đáng để thu hút, tạo điều kiện cho người dân sinh sống ổn định, lâu dài ở các khu vực khó khăn, trọng yếu về an ninh, quốc phòng. Thực hiện có hiệu quả chính sách bảo vệ và phát triển các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc thiểu số rất ít người.

Bốn là, phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số

Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số toàn diện về quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số. Tiếp tục củng cố mạng lưới dịch vụ kế hoạch hoá gia đình như: dịch vụ tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh, sơ sinh, hỗ trợ sinh sản, tư vấn kiểm tra sức khoẻ sinh sản trước hôn nhân; tăng cường kết nối, hợp tác với các cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập; đưa dịch vụ tới tận người sử dụng.

Sắp xếp lại hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội công lập theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá, tạo lập môi trường thân thiện, hoà nhập giữa các nhóm đối tượng và với xã hội. Phát triển mạnh hệ thống chuyên ngành lão khoa trong các cơ sở y tế. Khuyến khích phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; cơ sở cung cấp các loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, văn hoá, giải trí của người cao tuổi.

Ưu tiên đầu tư nguồn lực nhà nước, đồng thời huy động nguồn lực xã hội phát triển các cơ sở cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản bảo đảm các nhóm dân số đặc thù như trẻ em, người khuyết tật, người bị di chứng chiến tranh, người cao tuổi, đồng bào dân tộc ít người, người di cư…

Đẩy mạnh nghiên cứu về dân số và phát triển, nhất là các vấn đề mới, trọng tâm về cơ cấu, chất lượng, phân bố dân số và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực. Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, phát triển mạng lưới nghiên cứu về dân số và phát triển.

Năm là, bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số

Bảo đảm đủ nguồn lực đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho công tác dân số, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, văn hoá, thể thao... nhằm nâng cao chất lượng dân số, đời sống của nhân dân, nhất là đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Đẩy mạnh xã hội hoá, có chính sách khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất, phân phối, cung cấp các phương tiện, dịch vụ trong lĩnh vực dân số.

Phát triển thị trường, đa dạng hoá các gói bảo hiểm (bảo hiểm nhà nước, bảo hiểm thương mại) với nhiều mệnh giá tương ứng các gói dịch vụ khác nhau để các nhóm dân số bình đẳng trong việc tham gia và thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi, an sinh xã hội.

Sáu là, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân số

Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương; thực hiện quản lý chuyên môn thống nhất. Có chính sách đãi ngộ, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên ở thôn, bản, tổ dân phố... Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ dân số các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang chính sách dân số và phát triển..

Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành nhằm tăng cường chỉ đạo, điều phối hoạt động của các ngành, cơ quan có chức năng quản lý các lĩnh vực liên quan tới dân số và phát triển. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ, tạo thuận lợi cho người dân, nhất là việc đẩy nhanh triển khai thực hiện đăng ký dân số và cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia thống nhất dùng chung đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội.

Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế

Chủ động, tích cực hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số. Tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn đa phương, song phương về dân số và phát triển. Tranh thủ sự đồng thuận, hỗ trợ về tài chính, tri thức, kinh nghiệm và kỹ thuật của các nước, các tổ chức quốc tế. Tập trung nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về dân số.

4- Tổ chức thực hiện

Giao cho Quốc hội, Chính phủ; các ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết.

Các cấp ủy xây dựng kế hoạch với các nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình cụ thể, phù hợp để thực hiện Nghị quyết.

 

Nguồn: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

 


[1] Đại hội IV, V, VI của Đảng đều đề ra mục tiêu đưa tỷ lệ phát triển dân số xuống 1,7%/năm, nhưng kết quả thực hiện không đạt. Tổng điều tra dân số ngày 01/4/1989 cho kết quả tỷ lệ phát triển dân số vẫn ở mức trên 2%

[2] Bình quân cả nước từ năm 2006 đến nay, mỗi phụ nữ có trung bình 2,1 con, trong khi đó khu vực Đông Nam Bộ là 1,63 con, khu vực đồng bằng sông Cửu Long là 1,8 con

[3] Thời kỳ dân số vàng là khi dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 - 64 tuổi) nhiều gấp 2 lần dân số phụ thuộc (dưới 15 tuổi và trên 65 tuổi) hoặc tỷ số phụ thuộc chung dưới 50%. Việt Nam là một trong số ít nước có cơ cấu dân số vàng, chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong lịch sử nhân khẩu học. Các nước Đông Á đã tận dụng thành công cơ hội này để đưa nền kinh tế cất cánh thành “con rồng” châu Á.

[4] Dân số có số người từ 65 tuổi trở lên chiếm 7% là già hóa dân số, 14% là dân số già, 21% là dân số siêu già. Việt Nam chỉ mất 17 đến 20 năm chuyển giai đoạn từ già hóa dân số sang dân số già, trong khi đó Pháp mất 115 năm, Thụy Điển mất 85 năm, Ôxtrâylia mất 73 năm…

[5] Theo quy định, tỷ số giới tính khi sinh cân bằng tự nhiên là 103 - 107 bé trai/100 bé gái khi sinh ra sống, vượt khỏi mức này là mất cân bằng. Tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam năm 2006 là 109 bé trai/100 bé gái; năm 2013: 113,8/100, năm 2016: 112,8/100; số tỉnh, thành phố có tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh năm 2009 là 45/63 và năm 2015 là 55/63.

[6] Các nước phát triển từ lâu đã thực hiện việc đăng ký 100% dân số (mỗi người dân được cấp một số định danh - ID từ khi sinh ra) và quản lý trong cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia duy nhất, dùng chung cho các cơ quan nhà nước, là cơ sở dữ liệu gốc để xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành về thuế, bảo hiểm, sức khỏe…

 

Bài viết khác:

Công bố 9 Nghị quyết của Quốc hội

Tìm hiểu về Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới

Tìm hiểu về Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập

Tìm hiểu về Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Đề cương báo cáo kết quả học tập, quán triệt, tuyên truyền các nghị quyết HNTW khóa XII của Đảng

Tài liệu giới thiệu, quán triệt nội dung cơ bản các nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII

Tìm hiểu thuật ngữ "Môi trường pháp lý" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "Mục tiêu thiên niên kỷ" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "Dịch vụ giáo dục và đào tạo" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "Động lực phát triển đất nước" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

 Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Diễn văn Khai mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Hưng Yên quê tôi - Vũ Văn Toàn
 Chiếc bút chì của bé: Thơ Nguyễn Khắc Hào- nhạc: Trần Thanh Tùng
 Đêm bé nằm mơ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Bùi Anh Tú
 Dế mèn: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Vũ Ngọc Tường
 Hạt mưa: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Thanh Phúc
 Chuyện kể về ông Sét: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Hoàng Trọng
 Hoa trăng: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Trọng Tĩnh
 Hỏi - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Duy Quang
 Nếu đất là Mẹ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Đỗ Hiển Vinh
 Ve Sầu - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lưu Hoàng Kim
 Trồng nụ trồng hoa - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lương Nguyên
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hát ru
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Huyền thoại Nguyệt Hồ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Thơ cho con
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ:Lên Tam Đảo
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Em ơi mùa nhãn chín
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Chùa Chuông
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Bạn và thơ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Tháng ba quê hương
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa Muống
 Tình khúc Nguyệt Hồ: Nguyễn Khắc Hào - Thanh Tùng
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Truyền thuyết tình yêu
 Thăm quê em
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hưng Yên một khúc sử ca
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Gửi người chơi đàn tranh
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa gạo

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HƯNG YÊN

Giấy phép xuất bản số: 140/GP-TTĐT cấp ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Số 14 Đường Chùa Chuông, Phường Hiến Nam, TP Hưng Yên, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 0321 3 551 414 -Fax: 0321 3 551 414
Email: tuyengiaohungyen2011@gmail.com  Website: www.tuyengiaohungyen.vn

Ghi rõ nguồn "tuyengiaohungyen.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.