Thứ Ba, ngày 26 tháng 9 năm 2017 - 8:48:08 AM

Trang chủ » Thông tin - Tuyên truyền » Đưa Nghị quyết Đảng vào cuộc sống
Đăng ngày: 05/07/2017 - 10:31:42 PM | Lượt xem: 10559 | PTT

Nội dung, quan điểm cơ bản của Đảng trong Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Nhằm giúp các đơn vị và các đồng chí báo cáo viên, tuyên truyền viên thuận lợi trong quá trình tổ chức giới thiệu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII tới cán bộ, đảng viên và Nhân dân, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy biên soạn Tài liệu giới thiệu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII để các đơn vị và các đồng chí báo cáo viên tham khảo, phục vụ công tác giới thiệu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết.

Sự cần thiết ban hành Nghị quyết

Trong hơn 30 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm đến việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, năm 2001, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết chuyên đề “Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”. Tiếp đó, qua các kỳ Đại hội, Đảng đã có nhiều nghị quyết, kết luận bổ sung, phát triển nội dung này. Các ngành, các cấp đã nghiêm túc tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng, đạt nhiều kết quả tích cực. Chính phủ có chương trình hành động, kế hoạch đồng bộ, cụ thể và chỉ đạo quyêt liệt, sâu sát, định kỳ sơ kết, tổng kết. Tuy vậy, kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cho đến nay chưa đáp ứng yêu cầu. Đại hội XII của Đảng đã nhận định: “Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, chưa thể hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nưóc”; đồng thời đề ra yêu cầu và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Để thực hiện yêu cầu của Đại hội XII, cần tổng kết, xác định những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, kiến nghị, đề xuất các chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm cụ thể hóa và thực hiện có kết quả Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn tới; Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3-6-2017 về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

 Mục tiêu của Nghị quyết là đánh giá việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về sắp xếp cơ cấu lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở tổng kết 15 năm (2001 - 2016) thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX, quyết định các chủ trương, chính sách và giải pháp lớn nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

Cấu trúc của Nghị quyết gồm 4 phần chính sau:

- Tình hình và nguyên nhân.

- Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu.

- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu.

- Tổ chức thực hiện.

1- Về tình hình và nguyên nhân

Trung ương nhận định: Thời gian qua, mặc dù còn nhiều hạn chế, yếu kém cần khắc phục, nhưng nhìn tổng thể, doanh nghiệp nhà nước (bao gồm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối) đã nỗ lực vươn lên trong sản xuất, kinh doanh, không ngừng đổi mới, đạt được nhiều kết quả. Cùng với cơ chế, chính sách của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước là công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, đối phó với những biến động thị trường, kiềm chế lạm phát; đóng góp lớn trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; là nguồn thu lớn của ngân sách nhà nước; đóng góp quan trọng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và thực hiện chính sách bảo đảm an sinh xã hội. Doanh nghiệp nhà nước có đóng góp thu ngân sách lớn nhất so với các thành phần kinh tế khác. Tỉ trọng doanh thu doanh nghiệp nhà nước trong tổng thu ngân sách nhà nước đạt 19,3% (giai đoạn 2006 - 2010) và 22% (giai đoạn 2011 - 2015). Nộp ngân sách nhà nước của doanh nghiệp nhà nước năm 2015 đạt 246.038 tỉ đồng; trong đó các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chiếm 86% nộp ngân sách nhà nước của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Cơ cấu doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã được thu gọn hơn, hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh được nâng lên. The số liệu của Bộ Tài chính, 350 doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2015 đều tăng hơn so với những năm trước khi cổ phần hóa: vốn điều lệ tăng 72%, tổng tài sản tăng 39%, doanh thu tăng 29%, lợi nhuận trước thuế tăng 49%, nộp ngân sách tăng 27%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 33%. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường.

Bên cạnh kết quả đã đạt được, cơ chế, chính sách về doanh nghiệp nhà nước chưa phù hợp. Doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác; chưa thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước; hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn doanh nghiệp nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư; nhiều doanh nghiệp và dự án đầu tư kém hiệu quả, nợ nần, thua lỗ, thất thoát, không thể phục hồi. Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước chậm được đổi mới, kém hiệu quả, không phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước triển khai chậm. Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế, tiêu cực và có một số khó khăn, vướng mắc; thể chế chậm được giải quyết, nhất là thể chế định giá đất đai, tài sản.

Công tác cán bộ, chính sách tiền lương của doanh nghiệp nhà nước còn bất cập; trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp nhà nước chưa rõ ràng. Việc tách chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và chức năng của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước thực hiện chậm.

Công tác quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán còn chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả kém. Cơ chế quản lý, giám sát và việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan và người đại diện chủ sở hữu nhà nước còn nhiều yếu kém. Tham nhũng và tiêu cực trong doanh nghiệp nhà nước còn lớn; những doanh nghiệp thua lỗ, dự án kém hiệu quả chậm được xử lý. Việc đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước.

Những hạn chế, yếu kém nói trên chủ yếu là do: Nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, về yêu cầu và giải pháp cơ cấu lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước còn chưa đầy đủ; một số vấn đề chưa rõ, còn ý kiến khác nhau nhưng chậm được tổng kết, kết luận. Việc tổ chức thực hiện và thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng còn nhiều yếu kém, bất cập. Chủ quan, nóng vội trong việc triển khai thực hiện thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế đa ngành; lúng túng trong việc xác định cơ quan đại diện chủ sở hữu. Kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước không nghiêm. Thể chế quản lý, quản trị doanh nghiệp nhà nước yếu kém, tạo kẽ hở để hình thành nhóm lợi ích, thao túng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, tham nhũng, lãng phí; thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực. Công tác bồi dưỡng, đào tạo, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế. Công tác thanh tra, giám sát, kiểm toán của các cơ quan quản lý nhà nước chưa phát huy được hiệu lực, hiệu quả. Mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức đảng và tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá còn bất cập, chậm thay đổi.

2- Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu

2.1- Về quan điểm chỉ đạo: Gồm 6 quan điểm sau:

- Doanh nghiệp nhà nước (là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi phối, tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn) là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh, những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư.

- Doanh nghiệp nhà nước phải thật sự hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu; tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định pháp luật. Bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp nhà nước. Tách bạch nhiệm vụ kinh doanh với nhiệm vụ cung cấp hàng hoá và dịch vụ công ích của doanh nghiệp nhà nước.

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực canh tranh của doanh nghiệp nhà nước để làm tốt vai trò dẫn dắt phát triển các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, bảo đảm doanh nghiệp Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế - xã hội.

- Cơ cấu lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước là phân bổ lại có hiệu quả các nguồn lực nhà nước theo cơ chế thị trường; là quá trình thường xuyên, liên tục với phương thức thực hiện và lộ trình hợp lý. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước theo hướng kiên quyết cổ phấn hoá, bán vốn tại những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm hoặc không cần giữ cổ phần, vốn góp chi phối, kể cả những doanh nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả, đồng thời xử lý triệt để, bao gồm cả phá sản doanh nghiệp nhà nước yếu kém.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; không để xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước. Tách bạch, phân định rõ chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản lý nhà nước, chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực quản trị và phẩm chất đạo đức để kiện toàn đội ngũ cán bộ  lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước.

- Đổi mới phương thức và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng ;phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát đối với việc cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

2.2- Về mục tiêu:

- Mục tiêu tổng quát: Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội và bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm vai trò của doanh nghiệp nhà nước là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

- Mục tiêu đến năm 2020:

+ Cơ cấu lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2017 - 2020 trên cơ sở các tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc các ngành, lĩnh vực. Hầu hết doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có cơ cấu sở hữu hỗn hợp, chủ yếu là doanh nghiệp cổ phần. Phấn đấu hoàn thành thoái vốn tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ, tham gia góp vốn.

+ Tập trung xử lý dứt điểm các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thua lỗ, các dự án, công trình đầu tư không hiệu quả, thua lỗ kéo dài.

+ Phấn đấu đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; nâng cao một bước quan trọng hiệu quả kinh doanh, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước.

+ Hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Chậm nhất đến năm 2018, thành lập một cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.

- Mục tiêu đến năm 2030:

+ Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có cơ cấu sở hữu hỗn hợp, chủ yếu là doanh nghiệp cổ phần.

+ Trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước hiện đại tương đương với khu vực; đáp ứng đầy đủ chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; hình thành đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, có trình độ cao, phẩm chất đạo đức tốt.

+ Củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước hiện có với quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

3- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

Gồm 5 nhiệm vụ, giải pháp sau:

3.1- Đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước

Trên cơ sở rà soát, xác định rõ số lượng và phạm vi ngành, lĩnh vực có doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước. Đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước theo nguyên tắc: Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh, những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư; tối đa hoá giá trị bán vốn nhà nước. Tập trung xử lý dứt điểm các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp, các dự án, công trình đầu tư không hiệu quả, thua lỗ kéo dài, kể cả bằng biện pháp giải thể, phá sản. Bảo đảm vốn, tài sản của Nhà nước và giá trị doanh nghiệp được định giá đầy đù, hợp lý, công khai, minh bạch. Nghiêm cấm và xử lý nghiêm minh các trường hợp định giá thấp tài sản, vốn của Nhà nước và giá trị doanh nghiệp không đúng quy định của pháp luật để trục lợi, gây thất thoát tài sản, vốn nhà nước.

3.2- Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để doanh nghiệp nhà nước thật sự vận hành theo cơ chế thị trường

Doanh nghiệp nhà nước phải đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; thật sự hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch và trách  nhiệm giải trình. Tách bạch nhiệm vụ kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích của doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước kinh doanh hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận. Việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội do Nhà nước giao được triển khai theo cơ chế Nhà nước đặt hàng, lựa chọn cạnh tranh, công khai; xác định rõ giá thành, chi phí thực hiện, trách nhiệm và quyền lợi của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước.

Xóa bỏ các chính sách can thiệp hành chính trực tiếp, bao cấp dành cho doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải đi đầu trong ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại, sử dụng tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường; hạn chế tình trạng sản xuất kinh doanh khép kín, cục bộ, không minh bạch trong doanh nghiệp nhà nước.

3.3- Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị và nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước

Xây dựng và áp dụng khung quản trị doanh nghiệp với các nguyên tắc phù hợp với chuẩn mực quốc tế tại các doanh nghiệp nhà nước, nhất là đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Thiết lập các hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật, rủi ro, xung đột lợi ích, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, tiêu cực, tham nhũng. Người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật và Nhà nước về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.

Ban kiểm soát, kiểm soát viên phải thực sự là công cụ giám sát hữu hiệu của chủ sở hữu, hoạt động độc lập và không chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo hoặc chi phối về lợi ích của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị và ban điều hành của doanh nghiệp. Thực hiện cơ chế tiền lương, tiền thưởng, thù lao của người lao động và người quản lý doanh nghiệp nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường, có tính cạnh tranh cao dựa trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh. Tách người quản lý doanh nghiệp nhà nước khỏi chế độ viên chức, công chức, sắp xếp, tinh gọn và nâng cao hiệu quả tổ chức bộ máy, biên chế của doanh nghiệp nhà nước; cơ cấu lại, bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ; tăng cường bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo và tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ doanh nghiệp nhà nước. Bảo đảm tính minh bạch, công khai và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là về tài chính, đầu tư, mua sắm, sử dụng vốn của Nhà nước, công tác cán bộ, giao dịch với người có liên quan đến người quản lý.

3.4- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

Hoàn thiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Rà soát, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về doanh nghiệp nhà nước. Tăng cường công tác chỉ đạo, tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước. Hoàn thiện tổ chức quản lý để thực hiện chức năng Nhà nước là chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước; bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nước trong hoạt động theo nguyên tắc thị trường; khẩn trương hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát doanh nghiệp và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Khẩn trương thành lập một cơ quan chuyên trách của Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước.

3.5- Đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng; phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp tại doanh nghiệp nhà nước

- Đổi mới mô hình tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng tại doanh nghiệp nhà nước. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong doanh nghiệp nhà nước. Nâng cao hiệu quả và vai trò lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng tại doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước, công tác chính trị, tư tưởng, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp, phát huy dân chủ cơ sở. Quy định rõ trách nhiệm của cấp uỷ, người đứng đầu tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước khi để xảy ra thua lỗ, tổn thất trong hoạt động và vi phạm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Triển khai thực hiện nghiêm túc Quy định số 69-QĐ/TW ngày 13/02/2017 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của đảng uỷ cấp trên cơ sở trong doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối.

- Bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất giữa các quy định của Đảng với các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về công tác tổ chức và cán bộ dựa trên nguyên tắc: Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và thống nhất quản lý cán bộ trong doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

- Lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt sâu sắc, tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức trong hệ thống chính trị và sự đồng thuận trong xã hội về quan điểm, mục tiêu, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận đầy đủ thông tin và tham gia giám sát hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

- Phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là đối với việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

- Đổi mới, hoàn thiện mô hình tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội tại doanh nghiệp nhà nước. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về doanh nghiệp nhà nước; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong doanh nghiệp nhà nước.

4- Tổ chức thực hiện

Giao cho Quốc hội, Chính phủ; các ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết.

 

Các cấp ủy Đảng xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết với lộ trình và phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thực hiện phù hợp với điều kiện cụ thể.

Nguồn: Tài liệu giới thiệu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

 

Bài viết khác:

Để ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện "Tự diễn biến", "Tự chuyển hóa" trong nội bộ Đảng

Kiểm tra, giám sát thực hiện quy định của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "Phúc lợi xã hội" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "Tự diễn biến, tự chuyển hóa" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tài liệu giới thiệu, quán triệt nội dung cơ bản các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy biên soạn

Nội dung, quan điểm cơ bản của Đảng trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Nội dung, quan điểm cơ bản của Đảng trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Tìm hiểu thuật ngữ "công nghiệp văn hóa" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "nợ công" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "Những vấn đề toàn cầu cấp bách" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

 Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Diễn văn Khai mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Hưng Yên quê tôi - Vũ Văn Toàn
 Chiếc bút chì của bé: Thơ Nguyễn Khắc Hào- nhạc: Trần Thanh Tùng
 Đêm bé nằm mơ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Bùi Anh Tú
 Dế mèn: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Vũ Ngọc Tường
 Hạt mưa: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Thanh Phúc
 Chuyện kể về ông Sét: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Hoàng Trọng
 Hoa trăng: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Trọng Tĩnh
 Hỏi - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Duy Quang
 Nếu đất là Mẹ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Đỗ Hiển Vinh
 Ve Sầu - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lưu Hoàng Kim
 Trồng nụ trồng hoa - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lương Nguyên
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hát ru
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Huyền thoại Nguyệt Hồ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Thơ cho con
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ:Lên Tam Đảo
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Em ơi mùa nhãn chín
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Chùa Chuông
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Bạn và thơ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Tháng ba quê hương
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa Muống
 Tình khúc Nguyệt Hồ: Nguyễn Khắc Hào - Thanh Tùng
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Truyền thuyết tình yêu
 Thăm quê em
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hưng Yên một khúc sử ca
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Gửi người chơi đàn tranh
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa gạo

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HƯNG YÊN

Giấy phép xuất bản số: 140/GP-TTĐT cấp ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Số 14 Đường Chùa Chuông, Phường Hiến Nam, TP Hưng Yên, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 0321 3 551 414 -Fax: 0321 3 551 414
Email: tuyengiaohungyen2011@gmail.com  Website: www.tuyengiaohungyen.vn

Ghi rõ nguồn "tuyengiaohungyen.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.