Thứ Ba, ngày 26 tháng 9 năm 2017 - 8:48:30 AM

Trang chủ » Thông tin - Tuyên truyền » Đưa Nghị quyết Đảng vào cuộc sống
Đăng ngày: 05/07/2017 - 10:28:08 PM | Lượt xem: 10920 | PTT

Nội dung, quan điểm cơ bản của Đảng trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Nhằm giúp các đơn vị và các đồng chí báo cáo viên, tuyên truyền viên thuận lợi trong quá trình tổ chức giới thiệu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII tới cán bộ, đảng viên và Nhân dân, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy biên soạn Tài liệu giới thiệu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII để các đơn vị và các đồng chí báo cáo viên tham khảo, phục vụ công tác giới thiệu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết.

 

Sự cần thiết ban hành Nghị quyết

Qua hơn 30 năm đổi mới, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X, Đảng ta luôn quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rút ra các bài học kinh nghiệm, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển, góp phần quan trọng đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả đối ngoại, hội nhập quốc tế.

 Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Bộ Chính trị đã thành lập Ban Chỉ đạo, giao Ban Kinh tế Trung ương là cơ quan thường trực giúp Ban Chỉ đạo tiến hành tổng kết và xây dựng Đề án “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X).

Mục tiêu của Đề án là tổng kết 10 năm (2008 - 2017) thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kiến nghị, đề xuất các chủ trương, chính sách và giải pháp lớn nhằm thực hiện có kết quả Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế đến năm 2020 và năm 2030.

Trên cơ sở Đề án “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất ban hành Nghị quyết số 11 -NQ/TW ngày 3-6-2017 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 Cấu trúc của Nghị quyết gồm 4 phần chính sau:

- Tình hình và nguyên nhân.

- Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu.

- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu.

- Tổ chức thực hiện.

1- Về tình hình và nguyên nhân

Trung ương nhận định: Mười năm qua (2008 - 2017), việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khoá X và các chủ trương, quan điểm của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã góp phần quan trọng từng bước định hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình; phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy đủ hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với luật pháp quốc tế. Từ khi ban hành Nghị quyết Trung ương 6 khóa X đến nay, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 191 bộ luật, luật, pháp lệnh; trong đó, có khoảng 120 (chiếm hơn 60%) bộ luật, luật, pháp lệnh liên quan trực tiếp tới hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, tích cực tham gia xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN, tham gia và ký kết 9 hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương khác; thiết lập quan hệ kinh tế, thương mại với hơn 220 quốc gia, vùng lãnh thổ và là thành viên của 70 tổ chức khu vực và quốc tế.

Tuy nhiên, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện còn chậm, thiếu kiên quyết. Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến lược, hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả chưa cao. Một số loại thị trường chậm hình thành và phát triển, vận hành còn nhiều vướng mắc, kém hiệu quả, nhất là các thị trường quyền sử dụng đất, khoa học - công nghệ, lao động, dịch vụ y tế, giáo dục - đào tạo… Thị trường bất động sản phát triển không bền vững. Thị trường tài chính phát triển thiếu cân bằng và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thị trường chứng khoán chưa thực sự trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế; Thể chế bảo đảm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn nhiều bất cập. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, mức độ minh bạch, ổn định chưa cao. Việc tiếp cận các nguồn lực xã hội chưa bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế, quyền sở hữu tài sản, nhất là quyền của người góp vốn chưa được bảo đảm thực thi đầy đủ. Việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước còn chậm, hiệu quả kinh doanh của phần lớn doanh nghiệp nhà nước còn thấp, nhiều dự án đầu tư kém hiệu quả, thua lỗ, thất thoát, không thể phục hồi. Kinh tế tập thể chậm phát triển; sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu theo mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, phân tán. Phần lớn kinh tế tư nhân là các hộ cá thể, các doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ, phát triển còn manh mún. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động, khai thác tài nguyên; ít liên kết, chuyển giao công nghệ và quản trị tiên tiến cho các doanh nghiệp trong nước. Đổi mới khu vực sự nghiệp công và xã hội hoá cung cấp dịch vụ công còn chậm.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Trong đó năng lực xây dựng và thực thi thể chế còn nhiều bất cập, năng lực phân tích, dự báo còn hạn chế. Cơ chế thực thi và phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương kém hiệu lực, hiệu quả. Công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và xử lý vi phạm hiệu quả còn thấp.

2- Về quan điểm chỉ đạo và mục tiêu

2.1- Về quan điểm chỉ đạo: Có 5 quan điểm chỉ đạo:

Thứ nhất, xây dựng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.

Thứ hai, nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn kết hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá và bảo vệ môi trường, đồng thời bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình phát triển liên tục; kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại và kinh nghiệm từ thực tiễn đổi mới ở nước ta; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng phải đảm bảo giữa vững độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế kinh tế phải đi đôi với đổi mới, hoàn thiện bộ máy tổ chức, cán bộ của toàn hệ thống chính trị; xác định rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ năm, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị. Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.2- Mục tiêu:

- Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt mô hình hoàn chỉnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; góp phần huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

- Mục tiêu cụ thể đến năm 2020: Phấn đấu hoàn thiện một bước đồng bộ hơn hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các chuẩn mực phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Cơ bản bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững. Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

- Mục tiêu đến năm 2030: Hoàn thiện đồng bộ và vận hành có hiệu quả thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

Gồm 6 nhiệm vụ, giải pháp sau:

3.1- Thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

- Tính hiện đại và hội nhập quốc tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thể hiện ở chỗ: Kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn 30 năm đổi mới; có hệ thống pháp luật, các thiết chế, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với thị trường và các nền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định, thực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực phổ biến của thế giới đương đại.

Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế từng bước được xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật. Khuyến khích làm giàu hợp pháp. Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.

3.2- Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp

* Hoàn thiện thể chế về sở hữu

- Thể chế hoá đầy đủ quyền tài sản (quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản) của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt; bảo đảm hiệu lực thực thi và bảo vệ có hiệu quả quyền sở hữu tài sản.

- Hoàn thiện pháp luật về đất đai để huy động và sử dụng hiệu quả đất đai, khắc phục tình trạng sử dụng đất lãng phí, đẩy mạnh việc dồn điền đổi thửa. Xác lập các thể chế thuận lợi cho việc mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với từng khu vực, chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng đất, góp cổ phần bằng quyền sử dụng đất nhằm thúc đẩy tích tụ và tập trung ruộng đất, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, đồng thời bảo đảm việc làm và đời sống của nông dân.

* Hoàn thiện thể chế phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp

- Thực hiện nhất quán một mặt bằng pháp lý và điều kiện kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật. Xây dựng các cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế đất nước.

- Hoàn thiện pháp luật về đầu tư, kinh doanh, xoá bỏ các rào cản đối với hoạt động đầu tư kinh doanh; bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh tế đã được Hiến pháp quy định. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; giảm cơ bản gánh nặng chi phí trung gian, bất hợp lý đối với doanh nghiệp. Hoàn thiện các quy định liên quan đến khởi nghiệp để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động khởi nghiệp theo các quy định pháp luật.

- Hoàn thiện thể chế về cạnh tranh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh; xử lý dứt điểm tình trạng chồng chéo các quy định về điều kiện kinh doanh; khắc phục tình trạng ban hành trái thẩm quyền các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh. Tăng cường tính minh bạch về độc quyền nhà nước. Xoá bỏ các chính sách can thiệp hành chính trực tiếp, bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

3.3- Hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường

* Hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường

- Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; bảo đảm tính đúng, tính đủ và công khai, minh bạch các yếu tố hình thành giá hàng hoá, dịch vụ công thiết yếu. Không lồng ghép các chính sách xã hội trong giá hàng hoá, dịch vụ. Chuyển từ cơ chế cấp phát sang đặt hàng, từ hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ sang hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng. Hoàn thiện các quy định pháp luật về phí, lệ phí theo hướng chuyển sang áp dụng giá dịch vụ phù hợp với cơ chế thị trường. Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phát huy đúng và đầy đủ vai trò chủ thể của người tiêu dùng, các hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nền kinh tế.

- Cải cách mạnh mẽ chính sách tài chính về đất đai theo hướng đơn giản, ổn định, công khai, minh bạch và công bằng. Nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về thuế tài sản, nhất là về đất đai, bất động sản. Bảo đảm minh bạch thông tin về thị trường quyền sử dụng đất. Xác định giá trị quyền sử dụng đất theo cơ chế thị trường thông qua đấu giá, đấu thầu các dự án có sử dụng đất, thoả thuận mua bán trên thị trường; áp dụng phổ biến việc xác định giá trị quyền sử dụng đất thông qua các tổ chức thẩm định giá độc lập, chuyên nghiệp. Rà soát, điều chỉnh khung giá quyền sử dụng đất phù hợp với thị trường ở từng địa phương. Tăng cường áp dụng phương thức cho thuê đất.

- Thực hiện bình đẳng trong tiếp cận các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Hoàn thiện và thực thi có hiệu quả các quy định của pháp luật về công khai, minh bạch trong tiếp cận các nguồn lực công, mua sắm và đầu tư công. Tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà nước; kiểm soát, ngăn chặn, xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp. Hoàn thiện thể chế phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường vào những ngành, lĩnh vực và địa bàn đạt hiệu quả cao, có tác động lan toả. Hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, thể chế bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu và quyền tài sản; không hình sự hoá các mối quan hệ kinh tế và dân sự.

* Hoàn thiện thể chế để phát triển đồng bộ, vận hành thông suốt các thị trường

- Thị trường hàng hoá, dịch vụ: Đẩy mạnh phát triển thị trường hàng hoá, dịch vụ, gồm cả xuất nhập khẩu, thị trường trong nước và biên mậu; phát triển hạ tầng thương mại. Thực hiện tự do hoá thương mại phù hợp với các cam kết quốc tế. Phát triển mạnh các phương thức giao dịch thị trường hiện đại. Xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường phù hợp với yêu cầu trong nước và cam kết quốc tế, bảo vệ hợp lý thị trường trong nước, không để bị nước ngoài thâu tóm, thao túng.

Phát triển các thị trường dịch vụ, nhất là các dịch vụ có hàm lượng tri thức và công nghệ cao. Hình thành khung pháp lý cho phát triển những thị trường mới, nhất là về công nghiệp môi trường, công nghiệp văn hoá...

- Thị trường tài chính: Thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Đổi mới cơ chế phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước, quản lý tài sản công. Đẩy mạnh hợp tác công - tư. Tiếp tục đổi mới chính sách thuế. Phát triển cân bằng, đồng bộ thị trường tài chính. Đẩy mạnh hoạt động và nâng cao hiệu quả của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu để trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế; xây dựng đầy đủ khung khổ pháp lý để thị trường mua bán nợ được hình thành và hoạt động có hiệu quả theo cơ chế thị trường. Phát triển thị trường bảo hiểm. Phát triển mạnh các thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn thuế, thẩm định giá hỗ trợ cho hoạt động của các tổ chức, cá nhân và góp phần nâng cao tính minh bạch của thị trường.

- Thị trường tiền tệ: Rà soát, sửa đổi pháp luật bảo đảm thực hiện chính sách tiền tệ theo mục tiêu kiểm soát lạm phát, phối hợp có hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá và các chính sách khác để ổn định kinh tế vĩ mô và cân đối lớn về tài chính - tiền tệ của nền kinh tế. Điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và thị trường tiền tệ. Điều hành tỉ giá linh hoạt theo tín hiệu thị trường. Tăng tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tiền tệ. Hoàn thiện khung khổ pháp lý về tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, bảo đảm nguyên tắc thị trường; bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và người cho vay; bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Xử lý dứt điểm các tổ chức tín dụng yếu kém và tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng. Nâng cao năng lực tài chính, quản trị, điều hành phù hợp với chuẩn mực quốc tế; phát triển nhanh dịch vụ tài chính, ngân hàng.

- Thị trường khoa học, công nghệ: Đổi mới, phát triển mạnh mẽ và đồng bộ thị trường khoa học, công nghệ. Tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Có chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất kinh doanh. Xác định doanh nghiệp là lực lượng chính trong phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.

- Thị trường bất động sản và quyền sử dụng đất: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để phát triển và vận hành thông suốt thị trường bất động sản nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả đất đai và tài sản, kết cấu hạ tầng trên đất. Xây dựng thể chế và các mô hình phù hợp để gắn kết quá trình công nghiệp hoá với đô thị hoá và xây dựng nông thôn mới. Xây dựng chính sách xã hội về nhà ở.

Tập trung xây dựng thể chế, hoàn thiện khung pháp lý phát triển thị trường sơ cấp, thứ cấp về quyền sử dụng đất, kể cả đất nông nghiệp; bảo đảm thị trường quyền sử dụng đất hoạt động công khai, minh bạch, có trật tự. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường cho thuê đất nông nghiệp. Nghiên cứu hoàn thiện khung khổ pháp lý về thuế sử dụng tài sản, nhất là về sử dụng đất đai.

- Thị trường lao động: Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển đồng bộ, liên thông thị trường lao động cả về quy mô, chất lượng lao động và cơ cấu ngành nghề; có cơ chế, chính sách để định hướng dịch chuyển lao động, phân bổ hợp lý lao động theo vùng. Lao động di cư và gia đình được tiếp cận bình đẳng các dịch vụ xã hội.

3.4- Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

- Tích cực thực hiện Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững của Liên hợp quốc; từng bước triển khai chiến lược tăng trưởng xanh. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế nhanh và bền vững với phát triển xã hội bền vững, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, tạo cơ hội cho mọi thành viên trong xã hội tham gia bình đẳng và thụ hưởng công bằng thành quả từ quá trình phát triển. Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, thống nhất; huy động sự tham gia của các thành phần xã hội vào thực thi chính sách an sinh xã hội, khuyến khích người dân tham gia tự bảo đảm an sinh xã hội, tập trung nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.

- Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao năng lực thực thi thể chế và tăng cường hiệu quả cơ chế giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

- Hoàn thiện thể chế về kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Có cơ chế huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển kinh tế các vùng biên giới trên đất liền, trên biển và hải đảo; phát triển các khu kinh tế - quốc phòng. Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp quốc phòng, an ninh với công nghiệp dân sinh trong tổng thể chính sách công nghiệp quốc gia.

- Xây dựng thể chế liên kết vùng, hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế vùng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, ưu tiên phát triển các vùng kinh tế động lực, đồng thời có chính sách hỗ trợ các vùng còn nhiều khó khăn; thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa phương; xây dựng một số đặc khu kinh tế - hành chính với thể chế vượt trội để tạo cực tăng trưởng và thử nghiệm thể chế phát triển vùng có tính đột phá. Chính phủ quy định mô hình điều phối liên kết vùng, xác định địa phương đầu tàu và nhiệm vụ của từng địa phương trong vùng.

3.5- Hoàn thiện thể chế đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế

- Triển khai và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung hệ thống pháp luật và các thể chế liên quan đáp ứng yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp điều hành giữa các bộ, ngành, địa phương trong thực thi các cam kết hội nhập và tiếp cận thị trường. Đổi mới công tác xúc tiến thương mại và đầu tư, cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. Nâng cao năng lực phòng ngừa, giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế.

- Thực hiện nhất quán chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá trong hợp tác kinh tế quốc tế, không để lệ thuộc vào một số ít thị trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tiềm lực của các doanh nghiệp trong nước. Xây dựng và thực hiện các cơ chế phù hợp với thông lệ quốc tế để phản ứng nhanh nhạy trước các diễn biến bất lợi trên thị trường thế giới, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong nước.

3.6- Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò xây dựng và thực hiện thể chế kinh tế của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

* Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng về kinh tế - xã hội.

- Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và việc xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao năng lực và hiệu quả công tác tham mưu về kinh tế - xã hội ở các cấp, các ngành.

- Tăng cường lãnh đạo việc thể chế hoá và việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kinh tế - xã hội.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng; phát hiện và giải quyết đúng đắn, kịp thời các vấn đề lớn, quan trọng về kinh tế - xã hội của đất nước.

* Nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện thể chế của Nhà nước

- Nhà nước thể chế hoá nghị quyết của Đảng, xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật; tăng cường sự phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp; xoá bỏ cơ chế xin - cho; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư, kinh doanh; khắc phục các khiếm khuyết của thị trường; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính. Đổi mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế; thực hiện đúng và đầy đủ chức năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Điều hành nền kinh tế không chỉ bảo đảm mục tiêu ngắn hạn mà còn hướng tới thực hiện các mục tiêu trung và dài hạn. Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nâng cao năng lực phân tích, dự báo. Đổi mới công tác thống kê phù hợp với thông lệ quốc tế. Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật; nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật.

- Nghiên cứu, rà soát, đổi mới việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Nâng cao chất lượng văn bản pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, tính nhất quán và dự đoán được của pháp luật.

- Rà soát, cơ cấu lại bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả; từng bước tách chức năng xây dựng chính sách và hành chính công với chức năng quản lý, điều tiết thị trường và thực hiện quyền sở hữu vốn nhà nước.

- Đẩy mạnh cải cách tư pháp. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của các thiết chế giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, trọng tâm là các hoạt động hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án nhân dân các cấp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.

* Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, sự tham gia của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp.

- Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, quyền và nghĩa vụ của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp.

- Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

- Tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức xã hội - nghề nghiệp tham gia vào các chương trình, dự án hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ, thúc đẩy các hình thức liên kết doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập, phát triển thị trường.

3.7- Một số nhiệm vụ cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện

Giai đoạn từ nay đến năm 2020, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 5 nhiệm vụ quan trọng sau:

Một là, hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và thể chế về phân phối kết quả làm ra để giải phóng sức sản xuất, tạo động lực và nguồn lực cho tăng trưởng, phát triển, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh.

Hai là, hoàn thiện thể chế về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; có chính sách đột phá tháo gỡ những vướng mắc, tạo thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trên cơ sở đẩy mạnh đồng bộ cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Xây dựng thể chế làm căn cứ xử lý dứt điểm, hiệu quả các tồn tại, yếu kém đã tích tụ trong nền kinh tế nhiều năm qua, đặc biệt là việc xử lý các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các dự án, công trình đầu tư công không hiệu quả, thua lỗ kéo dài; cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém gắn với xử lý nợ xấu.

Ba là, hoàn thiện thể chế về phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, tranh thủ những cơ hội và thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế và năng lực kiến tạo sự phát triển của Nhà nước, đặc biệt là năng lực, hiệu quả thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước.

Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, tinh giản bộ máy, biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống chính trị.

4- Tổ chức thực hiện

Giao cho Quốc hội, Chính phủ; các ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết.

Các cấp ủy Đảng xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết với lộ trình và phân công trách nhiệm cụ thể.

Nguồn: Tài liệu giới thiệu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Bài viết khác:

Để ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện "Tự diễn biến", "Tự chuyển hóa" trong nội bộ Đảng

Kiểm tra, giám sát thực hiện quy định của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "Phúc lợi xã hội" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "Tự diễn biến, tự chuyển hóa" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tài liệu giới thiệu, quán triệt nội dung cơ bản các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy biên soạn

Nội dung, quan điểm cơ bản của Đảng trong Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Nội dung, quan điểm cơ bản của Đảng trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Tìm hiểu thuật ngữ "công nghiệp văn hóa" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "nợ công" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Tìm hiểu thuật ngữ "Những vấn đề toàn cầu cấp bách" trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

 Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Diễn văn Khai mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Hưng Yên quê tôi - Vũ Văn Toàn
 Chiếc bút chì của bé: Thơ Nguyễn Khắc Hào- nhạc: Trần Thanh Tùng
 Đêm bé nằm mơ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Bùi Anh Tú
 Dế mèn: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Vũ Ngọc Tường
 Hạt mưa: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Thanh Phúc
 Chuyện kể về ông Sét: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Hoàng Trọng
 Hoa trăng: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Trọng Tĩnh
 Hỏi - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Duy Quang
 Nếu đất là Mẹ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Đỗ Hiển Vinh
 Ve Sầu - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lưu Hoàng Kim
 Trồng nụ trồng hoa - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lương Nguyên
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hát ru
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Huyền thoại Nguyệt Hồ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Thơ cho con
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ:Lên Tam Đảo
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Em ơi mùa nhãn chín
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Chùa Chuông
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Bạn và thơ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Tháng ba quê hương
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa Muống
 Tình khúc Nguyệt Hồ: Nguyễn Khắc Hào - Thanh Tùng
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Truyền thuyết tình yêu
 Thăm quê em
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hưng Yên một khúc sử ca
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Gửi người chơi đàn tranh
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa gạo

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HƯNG YÊN

Giấy phép xuất bản số: 140/GP-TTĐT cấp ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Số 14 Đường Chùa Chuông, Phường Hiến Nam, TP Hưng Yên, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 0321 3 551 414 -Fax: 0321 3 551 414
Email: tuyengiaohungyen2011@gmail.com  Website: www.tuyengiaohungyen.vn

Ghi rõ nguồn "tuyengiaohungyen.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.