Thứ Ba, ngày 21 tháng 11 năm 2017 - 11:30:27 AM

Trang chủ » Văn hóa - Văn nghệ » Chỉ đạo - Hướng dẫn - Nghiệp vụ
Đăng ngày: 20/01/2015 - 9:01:46 AM | Lượt xem: 9005

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG: CÔNG TÁC XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN HOÁ

1. Những khái niệm cơ bản

1.1. Lối sống
Là toàn bộ hoạt động sinh sống của con người trên mọi phương diện, bao gồm mọi quan hệ về giao tiếp, hành vi, nếp nghĩ trong tất cả các lĩnh vực: Lao động, sinh hoạt, các hoạt động chính trị-xã hội, hoạt động văn hóa, giáo dục, thể thao, giới tính... Về bản chất, lối sống gắn liền với giá trị văn hoá tinh thần của con người, chịu sự tác động của phương thức sản xuất, ý thức xã hội, trở thành những quy tắc mang ước tính xã hội.
Như vậy: Lối sống là một khái niệm có tính tổng hợp và đồng bộ, bao gồm các mối quan hệ kinh tế, xã hội, tư tưởng, tâm lý, đạo đức, văn hoá và các mối quan hệ khác của con người được hình thành từ một hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Nói một cách khác, lối sống là tổng hoà những đặc trưng hoạt động của con người trong điều kiện của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định.
Ví dụ: Lối sống đẹp: "Bán anh em xa, mua láng giềng gần", "Lá lành đùm lá rách", "Bầu ơi thương lấy bí cùng...", "Mình vì mọi người, mọi người vì mình"...
Lối sống chưa đẹp: "Đèn nhà ai, rạng nhà ấy", "Ngồi mát ăn bát vàng", "Tham vàng bỏ ngãi", "Tiền hậu bất nhất"...
1.2. Nếp sống
   Có ý nghĩa hẹp hơn lối sống, nếp sống bao gồm những cách thức, hành động và suy nghĩ, những quy ước được lặp đi lặp lại hằng ngày thành thói quen như: Tập quán sản xuất, sinh hoạt, trong phong tục, lễ nghi, trong hành vi đạo đức, pháp luật. Nói một cách khác, nếp sống là cách thức sống, sinh hoạt, ứng xử... của con người, của cộng đồng, được lặp đi lặp lại nhiều lần, được chọn lọc và lắng đọng và tồn tại trong tiềm thức nhân dân.
Ví dụ: Nếp sống tốt: Ngăn nắp, trật tự vệ sinh, đi làm đi họp đúng giờ, ăn trông nồi, ngồi trông hướng... Nếp sống chưa tốt: Chen lấn xô đẩy, nói tục, chửi thề...
1.3. Phong tục, tập quán
Tập quán: Tập quán là một hành vi, một công việc được lặp đi lặp lại nhiều lần thành thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được mọi người công nhận và làm theo.
Tập quán xã hội: Bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác.
Phong tục tập quán: Phong là phong nhã, là vẻ đẹp; Tục là những quy ước do cộng đồng thỏa thuận và mọi người trong cộng đồng phải có trách nhiệm tuân thủ.
Phong tục là những nét tốt đẹp của đời sống xã hội, là lề lối và thói quen lâu đời của một địa phương, của một dân tộc, hay một quốc gia như một luật bất thành văn, nhưng có sức mạnh và sức sống lâu bền. Ví dụ: Phong tục thờ cúng tổ tiên, phong tục làm (gói) bánh chưng ngày Tết của nhân dân ta.
Mỗi quốc gia, dân tộc có phong tục tập quán riêng. Trong một quốc gia ngoài những phong tục chung của toàn quốc cũng có những phong tục riêng và trong một địa phương, mỗi nhóm người lại có những phong tục riêng. Bất cứ một phong tục nào ra đời cũng đều xuất phát từ lợi ích chung của cộng đồng, cố kết cộng đồng ngày càng chặt chẽ nhằm đảm bảo sức mạnh và sự trường tồn của toàn thể cộng đồng.
Phong tục tập quán là một phạm trù rộng lớn, nó bao hàm mọi khía cạnh trong đời sống của con người. Là sản phẩm của xã hội, phong tục tập quán có mặt ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống con người. Từ các tập tục, lễ tiết vòng đời của mỗi cá nhân. Từ sinh nhật, việc cưới, việc tang, từ lễ hội cổ truyền đến ngày hội văn hoá, từ hội làng, hội vùng đến lễ hội có phạm vi cả nước; từ những nghi lễ thờ cúng thành hoàng làng, các nhân vật lịch sử, thờ Mẫu cho đến thờ cúng tổ tiên... Phong tục tập quán chính là đặc trưng văn hóa của cộng đồng, là tính cách và trình độ văn minh của cộng đồng đó.
1.4. Đạo đức
Đạo đức là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá-lối sống. Khi nói đến lối sống, không thể nào không nói tới đạo đức. Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, đạo đức gồm những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích của mình và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội. Tiến bộ đạo đức trở thành tiêu chí quan trọng nhất của tiến bộ văn hoá, vì tiến bộ đạo đức là tiêu chuẩn căn bản của sự phát triển toàn diện của nhân cách, của tiến bộ xã hội.
1.5. Phong hóa       
Phong hoá: Là Phong tục, tập quán và nếp sống của một xã hội (nói tổng quát). Trong đó phong là phong tục và hoá là giáo hoá.
Phong tục: Thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo. Trong đó phong là cốt lõi, là nếp hình thành có thể kéo dài theo thời gian, tỏa rộng trong không gian. Nó là tổng thể mang những đặc trưng tiêu biểu của một cộng đồng nhất định (nhà có gia phong, làng có hương phong, nước có quốc phong...).
Tục là thói quen được tôn trọng, được tuân theo và được giữ gìn chung trong cuộc sống của mỗi cộng đồng nhất định (tục lệ, tập tục); Hoá trong phong hoá, cũng như trong giáo hoá, trong văn hoá, vừa có ý nghĩa giáo dục, vừa có nghĩa đồng hoá. Thực chất phong hoá là giáo hoá phong tục.
Khi nghiên cứu đời sống sinh hoạt, sự phát triển xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc, người ta thường căn cứ vào nếp sống, phong tục và tập quán của nhân dân của quốc gia đó bởi vì phong tục tập quán cũng phản ánh trung thực tinh thần dân tộc của một nước.
2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nếp sống văn hóa
Đảng và Nhà nước ta đặt vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng con người mới Việt Nam trong cả quá trình tiến hành cách mạng: Từ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), Bác Hồ kêu gọi nhân dân diệt giặc đói, diệt giặc dốt, đồng thời Bác quan tâm đề cập ngay đến vấn đề Xây dựng “Đời sống mới” cho nhân dân. Trong tác phẩm “Đời sống mới” của Hồ Chí Minh, dưới bút danh Tân Sinh được viết vào tháng 3/1947, Người viết: “Người là gốc của làng, nước. Nếu mọi người đều cố gắng làm đời sống mới, thì nhất định dân tộc sẽ phú cường”. Người khẳng định:“Cái mới không tự nhiên xuất hiện mà nó được kế thừa từ cái nền truyền thống”. “Đời sống mới không phải cái gỡ cũ cũng bỏ hết. Không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Thí dụ ta phải bỏ hết tính lười biếng và tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì ta phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân khi trước. Cái gì mới mà hay, thì phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp. Làm sao cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống mới”.
Quan điểm của Đảng ta chỉ rõ phải gắn chặt xây dựng nếp sống mới với xây dựng con người mới. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã chỉ ra: “Hoàn cảnh nước ta đòi hỏi và cho phép xây dựng sớm, xây dựng từng bước con người mới, không phải chờ đến sau khi phát triển cao của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”. “Xây dựng nền văn hóa mới và con người mới là điều cần và có thể thực hiện được từng bước, từng phần ngay từ hôm nay. Trong chặng đường trước mắt này, có những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép chúng ta bước đầu tạo ra một xã hội đẹp về lối sống, về quan hệ giữa người và người, một xã hội trong đó nhân dân lao động cảm thấy sống hạnh phúc, tuy mức sống vật chất còn chưa cao”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã xác định nhiệm vụ cụ thể xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau:
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung.
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật sáng tạo, năng xuất cao vi lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.
- “… đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình... xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma tuý, mại dâm, bạo lực, gây rối trật tự công cộng”.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng định hướng chăm lo phát triển văn hóa: “Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh phong phú, đa dạng. Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, được thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hàng ngày của cộng đồng và từng con người, tạo sức đề kháng đối với sản phẩm độc hại. Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm ma túy cờ bạc… góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam…”.Trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 với định hướng “Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế,… phát huy những giá trị tốt đẹp của các dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, coi trọng văn hóa trong lãnh đạo quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử. Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống… Nâng cao chất lượng Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng xã, phường, khu phố, thôn, bản đoàn kết dân chủ kỷ cương, văn minh, lành mạnh.”
3.Nội dung chủ yếu của công tác xây dựng nếp sống văn hóa cơ sở
3.1. Phạm vi
Nội dung của công tác xây dựng nếp sống văn hoá ở cơ sở tập trung vào 3 vấn đề sau đây:
- Nếp sống cá nhân
- Nếp sống gia đình
- Nếp sống xã hội: Phong tục tập quán…; Nếp sống văn minh nơi công cộng
Ba vấn đề trên liên quan chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng qua lại trong một thể thống nhất. Lối sống của từng thành viên tác động đến lối sống của gia đình và ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của xã hội. Mặt khác gia đình biến chuyển lại có tác động trực tiếp đến sự phát triển của xã hội.
Bác Hồ nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa" [1] và Người cho rằng “Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình...”
Gia đình là đơn vị xã hội nhỏ nhất của xã hội, mặc dù có những biến động lớn nhỏ, mặc dù tan rã có khi cả một tập thể cộng đồng rộng lớn, gia đình vẫn tồn tại.
Xây dựng nếp sống gia đình, nếp sống xã hội cũng chính là xây dựng con người mới. Con người mới là sản phẩm của xã hội, vừa là chủ thể có ý thức của xã hội. Nhưng con người mới không thể hình thành một cách tự phát, mà phải trải qua quá trình xây dựng một cách tích cực và chủ động. Con người mới cũng phải được tu dưỡng trong môi trường gia đình và môi trường xã hội.
- Nếp sống văn hoá của mỗi con người, ngoài biểu hiện trong lao động sáng tạo, trong làm ăn sinh sống, trong học tập và rèn luyện, trong đạo đức và nhân cách, trong giao tiếp và ứng xử; còn được biểu hiện trong phong tục.
- Nếp sống gia đình, thực chất là xây dựng gia đình có nếp sống văn hoá- gọi tắt là gia đình văn hoá.
- Nếp sống xã hội bao gồm nếp sống cộng đồng-đó là nếp sống ở làng, bản, ấp, nếp sống ở trường học, cơ quan, bệnh viện, xí nghiệp, khu phố, tổ dân phố...
Trong nếp sống xã hội, phải đặc biệt chú ý đến nếp sống nơi công cộng. Nếp sống văn minh nơi công cộng chính là bộ mặt của xã hội. Xây dựng cho mỗi người có hiểu biết và tôn trọng luật pháp, các quy tắc trật tự, vệ sinh, an toàn giao thông...
3.2. Nội dung cụ thể
Công tác xây dựng Nếp sống văn hóa bao gồm 3 nội dung chủ yếu là:
- Xây dựng Nếp sống cá nhân
- Xây dựng Gia đình có nếp sống văn hóa-gọi tắt là Gia đình văn hóa.
- Xây dựng Nếp sống xã hội: Xây dựng Phong tục tập quán tốt đẹp phù hợp với truyền thống dân tộc; Xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng.
Trong từng nội dung cũng cần xác định mặt chủ yếu cần phải đi sâu và coi đó là công tác trọng tâm. Cần phải đầu tư, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn, tập trung chỉ đạo để tạo ra hiệu quả thiết thực.
a. Nội dung thứ nhất: Xây dựng Nếp sống cá nhân
Nếp sống cá nhân là thái độ, hành vi, cách ăn mặc, nói năng, phép ứng xử với mọi người, kỷ luật lao động, ý thức chấp hành pháp luật, ý thức đối với cộng đồng và đối với các thành viên gia đình (chăm sóc giáo dục con cái, nuôi dưỡng cha mẹ, chăm sóc người cao tuổi), bạn bè hàng xóm…
b. Nội dung thứ hai: Xây dựng Gia đình có nếp sống văn hóa-gọi tắt là Gia đình văn hóa
Phải khai thác những yếu tố tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam, đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong gia đình, cùng nhau xây dựng một cuộc sống tốt đẹp.
Để thực sự là Gia đình có nếp sống văn hóa, nội dung của cuộc vận động cần tập trung vào ba tiêu chuẩn sau đây:
1. Gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia vào các phong trào thi đua của địa phương;
2. Gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng;
3. Tổ chức lao động, sản xuất kinh doanh, công tác học tập đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả.
Tùy điều kiện, nhu cầu, hoàn cảnh của từng nơi, từng lúc mà vận dụng tiêu chuẩn (cho sát hợp, nhưng cần lưu ý: Tiêu chuẩn phải ngắn gọn, dễ nhớ, dễ làm. Nhân dân phải được bàn bạc, trao đổi, cùng nhau thực hiện (tránh áp đặt, mệnh lệnh hành chính hóa…).
c. Nội dung thứ ba: Xây dựng phong tục tập quán tốt đẹp phù hợp với truyền thống dân tộc
Xây dựng phong tục quán tốt đẹp phù hợp với truyền thống dân tộc và bản sắc dân tộc. Phải sưu tầm, khai thác các phong tục, tập quán tốt đẹp của từng địa phương, từng dân tộc, đưa các phong tục tập quán truyền thống hòa nhập với cuộc sống hiện đại. Cải tạo những tập quán lạc hậu, xây dựng tập quán mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại, văn minh, tiến bộ. Nội dung này được tập trung vào: việc cưới, việc tang, ngày giỗ, ngày hội, mừng thọ, bài trừ mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội…
d. Nội dung thứ tư: Xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng
Những nơi công cộng là bộ mặt xã hội như: đường làng, ngõ xóm, nhà văn hóa, chợ, di tích, danh thắng… cần xây dựng cho mỗi người có hiểu biết và tôn trọng luật pháp, các quy tắc trật tự, vệ sinh, an toàn giao thông... Tổ chức tốt các dịch vụ vệ sinh ở những nơi công cộng. Sử dụng những quy tắc, quy định, tín hiệu… để hướng dẫn nếp sống nơi công cộng. Cần phải chú ý đến cảnh quan chung, ngoài sạch sẽ còn phải chú ý đến đẹp-phù hợp với thẩm mỹ-từ kiến trúc nhà cửa, khuôn viên gia đình, đường làng, ngõ xóm theo quy hoạch, đến ăn, mặc, ở, đi lại và giao tiếp giữa người với người.
4. Phương châm, phương pháp chỉ đạo
Công tác xây dựng nếp sống văn hóa phải được tiến hành kiên trì, lâu dài nhưng rất khẩn trương, đồng bộ, phải luôn luôn được củng cố, hoàn thiện và phát triển không ngừng.
Xây dựng nếp sống văn hóa thực chất là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên là công việc xây dựng con người, xây dựng xã hội, là cuộc cách mạng rộng lớn, toàn diện, lâu dài đòi hỏi việc xây và chống phải có thái độ chủ động và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy biện pháp vận động, thuyết phục giáo dục là chủ yếu, lấy xây là chính, xây là lâu dài, chống là trước mắt; xây kết hợp với chống.
4.1. Tham mưu Ban Chỉ đạo Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cấp xã thực hiện xây dựng nếp sống văn hóa thông qua công tác xây dựng gia đình văn hóa, làng (bản, buôn, plây, phum sóc…) văn hóa, tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội.
4.2. Nhận thức đầy đủ về lối sống, nếp sống
Nói đến lối sống, nếp sống là nói đến thuần phong mỹ tục. Chúng ta cũng cần nhận thức rõ thuần phong, mỹ tục còn liên quan đến tính bản địa và tính giao lưu; tính truyền thống và tính tiếp biến đổi mới.
Việc hình thành một lối sống hay một nếp sống tất yếu phải có những quy luật của nó đó là khoa học. Việc xây dựng lối sống luôn nằm trong quá trình kế thừa liên tục, mỗi người có trách nhiệm phải nhận thức cho rõ nội dung của sự kế thừa này, nội dung bản sắc của gia đình mình, cộng đồng mình và dân tộc mình. Nhưng quá trình kế thừa, không phải là quá trình lập lại, quá trình kế thừa lại chính là quá trình phát triển. Phải nắm vững bản sắc dân tộc để định hướng cho sự phát triển. Sự lãnh đạo và hướng dẫn về nếp sống văn hóa có thể thực hiện ở các cấp độ hình thức can thiệp sau đây:
- Can thiệp (cưỡng chế): Bằng luật pháp; pháp lệnh; quy chế, quy định…bắt buộc mọi người phải tuân theo. Ví dụ: Đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, chấp hành các quy định về an toàn giao thông, không lấn chiếm vỉa hè dành cho người đi bộ… Không khóc mướn, lăn đường, đội mũ rơm trong đám tang.
- Can thiệp bằng sự giáo dục rèn luyện: Nhà trường, tác phẩm, các hoạt động văn học nghệ thuật…
- Can thiệp bằng sức ép dư luận xã hội: Thông tin đại chúng, sinh hoạt chính trị xã hội, quy ước…
- Can thiệp bằng tổ chức đời sống cho nhân dân chu đáo trong điều kiện sống sinh hoạt: Tổ chức ăn, ở, vệ sinh, đi lại… đây là biện pháp cực kỳ quan trọng.
Chú ý: Trong đời sống có những hành vi sống thuộc về lĩnh vực thị hiếu, cá tính chúng ta không can thiệp sâu, có những phong tục riêng biệt của từng địa phương, hoặc từng dân tộc nhỏ mà nó không có hại thì ta không nên can thiệp và thậm chí cần khuyến khích để tạo cho sự phong phú, đa dạng trong văn hóa, tạo nên sự kết hợp hài hòa. Ví dụ:Tôn trọng sở thích cá nhân, thị hiếu, thẩm mỹ nhưng không trái với thuần phong mỹ tục dân tộc…
Lối sống được hình thành trong cuộc sống. Có những cái chúng ta không muốn có, nó vẫn hình thành. Sự hình thành của nó có những quy luật nhất định. Muốn xây dựng nó, cán bộ văn hóa cơ sở phải hiểu cuộc sống, hiểu các loại quy luật của cuộc sống và quy luật hình thành lối sống. Phải có tư duy khoa học, không thể dùng ý chí chủ quan và duy tâm.
4.3. Xây dựng các quy ước nếp sống trong ngành, giới, địa phương
Quy ước là công cụ chỉ đạo từng mặt của cuộc vận động xây dựng nếp sống. Ví dụ: Quy ước về việc cưới, quy ước về tang, quy ước về mở hội truyền thống, quy ước về gia đình văn hóa, quy ước về xây dựng làng văn hóa, quy ước về mừng thọ, khuyến học, khuyến tài…
4.4. Thực hiện phương châm: tích cực, thận trọng, khẩn trương, kiên trì, liên tục
Những thói quen đã hình thành từ xã hội cũ, đã trở thành “nếp” trong mỗi người. Xóa nếp cũ, tạo nếp mới không phải là việc làm đơn giản, chỉ nói và làm một hai lần, mà phải kiên trì, không thể nóng vội, nhưng phải rất khẩn trương. Nền văn hóa mới, phong tục tập quán tốt đẹp có thể chưa thể hình thành ngay trong một thời gian ngắn. Trong khi đó “nếp sống cũ”, hủ tục cũ lạc hậu vẫn còn tồn tại và mâu thuẫn với nền văn hóa tiên tiến nên mọi việc làm của chúng ta phải hết sức tích cực, thận trọng, kiên trì và liên tục.
4.5. Tạo dư luận xã hội
Dư luận xã hội có tác động rất mạnh trong việc giáo dục nếp sống. Phải dùng dư luận xã hội để điều chỉnh hành vi cá nhân-dùng dư luận để ca ngợi cái hay, cái đẹp, cái cao thượng trong nếp sống hàng ngày và lên án những hành vi sai trái, tiêu cực. (Báo chí, tác phẩm nghệ thuật như: Âm nhạc, điện ảnh, kịch nói, sân khấu… phản ánh cái hay, phê phán nhắc nhở những hành vi tiêu cực thể hiện trong lối sống, nếp sống hàng ngày…).
5. Phương pháp công tác
Xây dựng lối sống, nếp sống, phong tục tập quán là công việc liên quan đến nhiều người, nhiều gia đình, nhiều ngành, nhiều cấp-Là mối quan tâm của toàn xã hội. Vì vậy cấp uỷ Đảng và các cấp phải trực tiếp chỉ đạo, chính quyền các cấp là người tổ chức thực hiện, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu tổ chức thực hiện và có sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể và sự hưởng ứng thực hiện của các tầng lớp nhân dân. Công tác xây dựng lối sống văn hóa, nếp sống, xây dựng phong tục tập quán tốt đẹp phù hợp với truyền thống dân tộc là mối quan tâm của mọi người, mọi nhà, mọi ngành, mọi cấp. Nhận thức đầy đủ, có kế hoạch sát hợp với từng cơ sở, cuộc vận động này nhất định sẽ thu được kết quả.
5.1. Phương châm
- Phải kiên trì, lâu dài (không thể một sớm một chiều) nhưng phải rất khẩn trương, đồng bộ.
- Đòi hỏi việc xây và chống, lấy biện pháp vận động giáo dục là chủ yếu, lấy xây là chính, xây là lâu dài, xây là kết hợp chống.
5.2. Công tác đào tạo cán bộ
Công tác xây dựng nếp sống văn hóa, phải được tiến hành kiên trì, lâu dài nhưng rất tích cực và khẩn trương, đồng bộ, phải luôn luôn được củng cố, hoàn thiện và phát triển không ngừng. Công tác xây dựng nếp sống văn hóa phải có những cán bộ văn hóa có trình độ nghiên cứu và am hiểu công tác chỉ đạo cơ sở. Cán bộ trực tiếp làm công tác này phải được trang bị những kiến thức cơ bản các vấn đề về bản sắc văn hóa dân tộc, về lối sống, nếp sống, phong tục tập quán, các vấn đề tôn giáo, về tín ngưỡng, về văn hóa dân gian, về văn hóa nghệ thuật, về phương thức điều tra, khảo sát và phương pháp chỉ đạo, công tác quần chúng... để thực hiện.         
5.3. Tổ chức thực hiện
Từng bước tìm hiểu, nghiên cứu, phân loại các vấn đề trong nếp sống và con người, đặc biệt là lý luận và thực tiễn của Việt Nam để có phương hướng, nội dung, biện pháp tổ chức và chỉ đạo cho sát hợp với từng lúc, từng nơi, từng vùng.
Sử dụng các lực lượng tích cực và có uy tín trong xã hội làm nòng cốt, làm hạt nhân của cuộc vận động (lực lượng trí thức ở nông thôn, lực lượng cán bộ có uy tín, lực lượng hưu trí, hội Cựu chiến binh…).
Có kế hoạch tuyên truyền, động viên gây dư luận rộng rãi hỗ trợ cho cuộc vận động. Dùng dư luận xã hội để điều chỉnh hành vi cá nhân, ca ngợi, tôn vinh người tốt việc tốt, phê phán những hành vi tiêu cực của xã hội.

Phòng VHVN
(Tổng hợp từ Trang tin điện tử Văn hóa - Thể thao và Du lịch)

[1]. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.10, tr.310. 

Bài viết khác:

Sẽ có sách về linh vật truyền thống Việt Nam

Quyết định số 23/2016/QĐ-UBND ngày 23/11/2016 của Ủy ban nhân dân về việc ban hành Quy định quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

Công văn số 60-CV/BTGTU ban hành ngày 18/01/2016 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy về việc chỉ đạo hoạt động văn hoá, văn nghệ Xuân Bính Thân 2016

Hướng dẫn số 99 - HD/BTGTU của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hưng Yên ban hành, ngày 07 tháng 8 năm 2015 về việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ 6 tháng cuối năm 2015

Kế hoạch số 50-KH/BTGTU ngày 11/6/2015 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và bồi dưỡng cho người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

Chương trình hành động số 34-CTr/TU của Tỉnh ủy Hưng Yên, ban hành ngày 15/8/2014, thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) Về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Namđáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG: GIA ĐÌNH VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA

Nội dung chủ yếu trong công tác tham mưu của Ban Tuyên giáo trên lĩnh vực văn hoá

 Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Diễn văn Khai mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Hưng Yên quê tôi - Vũ Văn Toàn
 Chiếc bút chì của bé: Thơ Nguyễn Khắc Hào- nhạc: Trần Thanh Tùng
 Đêm bé nằm mơ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Bùi Anh Tú
 Dế mèn: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Vũ Ngọc Tường
 Hạt mưa: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Thanh Phúc
 Chuyện kể về ông Sét: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Hoàng Trọng
 Hoa trăng: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Trọng Tĩnh
 Hỏi - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Duy Quang
 Nếu đất là Mẹ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Đỗ Hiển Vinh
 Ve Sầu - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lưu Hoàng Kim
 Trồng nụ trồng hoa - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lương Nguyên
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hát ru
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Huyền thoại Nguyệt Hồ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Thơ cho con
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ:Lên Tam Đảo
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Em ơi mùa nhãn chín
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Chùa Chuông
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Bạn và thơ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Tháng ba quê hương
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa Muống
 Tình khúc Nguyệt Hồ: Nguyễn Khắc Hào - Thanh Tùng
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Truyền thuyết tình yêu
 Thăm quê em
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hưng Yên một khúc sử ca
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Gửi người chơi đàn tranh
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa gạo

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HƯNG YÊN

Giấy phép xuất bản số: 140/GP-TTĐT cấp ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Số 14 Đường Chùa Chuông, Phường Hiến Nam, TP Hưng Yên, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 0321 3 551 414 -Fax: 0321 3 551 414
Email: tuyengiaohungyen2011@gmail.com  Website: www.tuyengiaohungyen.vn

Ghi rõ nguồn "tuyengiaohungyen.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.