Thứ Ba, ngày 26 tháng 9 năm 2017 - 8:59:00 AM

Trang chủ » Lịch sử, truyền thống » Lịch sử Đảng bộ Hưng Yên
Đăng ngày: 24/07/2015 - 4:28:23 PM | Lượt xem: 817 | PMH

Con ngựa hồng của ông Huyện đội Trưởng

                                                                                                                                                                                                                                                               Truyện ký

I

 

                 Cai Trung người thôn Công Luận hạ, xã Văn Phúc huyện Văn Giang làm cai lục lộ cho Tây. Tháng 3.1945  nhật đảo chính Tây, Cai Trung ngấm ngầm vào “hội kín” bỏ việc về quê cùng Việt Minh đi giành chính quyền xã, huyện.

                Cách mạng tháng Tám thành công, cụ Hồ đề ra 3 việc lớn: “Diệt giặc dốt, diệt giặc đói. Diệt giặc ngoại xâm”. Thấy Cai Trung có tướng con nhà võ, lãnh đạo cử ông làm Huyện đội Trưởng phụ trách khâu công tác “chống giặc ngoại xâm”.

                Vốn người cao lớn, mắt lại sâu râu lại rậm, đi kiểm tra dân quân tự vệ các làng các xã ông thường đội mũ kê- pi, vận y phục mầu đen, chân đi ghệt cao cổ, bên hông lúc nào cũng đeo một khẩu “pạc-khoọc” to đùng và thanh kiếm Nhật dài sáng loáng, lại luôn cưỡi trên mình một con ngựa hồng vạm vỡ. Nhìn ông nhiều người tấm tắc:

- Quan Công thời Tam Quốc  cưỡi ngựa Xích Thố cũng chỉ đẹp đến thế là cùng !

Tất cả những thứ ông mang trên người nghe đâu đều giành được từ tay quân Nhật, Cai Trung không kể với ai nhưng người ta cứ đồn ầm lên như vậy “Thằng Nhật đánh cả thế giới mà Cai Trung còn pheng đầu cướp được súng, giằng được kiếm, thì thằng Tây là cái thá gì …”

Riêng con ngựa có dáng hình oai vệ không kém chủ nó đã có một lý lịch thú vị, ly kỳ. Đó là một con ngựa có bộ da hồng tía  lông đỏ mịn mượt mà, bờm ánh như nhung, đuôi tơ như tóc, bốn chân cao khoẻ, cổ dài mình lẳn, hai mắt to sáng, khi phi thì bốn vó tung cao, miệng hí bờm bay có dáng vẻ như  đạp gió cưỡi mây, xuyên sông vượt núi. Tiếng nhạc loong coong  như reo như hát khiến ai nhìn cũng thích, ai thấy cũng mê.

Tự vệ các làng chỉ cần nghe tiếng nhạc reo, ngựa hí là răm rắp tập tành, mọi động tác lăn lê bò toài, đâm ngang chém dọc, lia trước bổ sau, xoay đông chuyển tây nhất nhất nghiêm như quân lệnh.

Nhẩy phắt xuống ngựa, giơ tay ngang trán chào đồng đội, Cai Trung bao giờ cũng vuốt vào má ngựa vài lần và nói vào tai ngựa: “Mã Hồng ! Mã Hồng! Cám ơn ngựa đã đưa ta đến cùng đồng đội” và ông lấy thóc hoặc cỏ sạch từ chiếc túi mang theo cho ngựa đứng ăn. Ngựa hình như cũng hiểu được ý người, dẫm chân vài lần, đuôi vung vẩy đung đưa ra chiều thích thú. Vui bạn bè đồng chí, Cai Trung thường kể chuyện rằng:

“Con ngựa này của một thằng quan Nhật, nó  là giống chiến mã KapKaz thuộc nòi Mông Cổ sức bền đi khoẻ. Trong một trận chiến bị Việt Minh phục kích trên đất Tuyên Quang, thằng quan Nhật tử trận, còn chú ngựa biệt tăm, lang thang vượt rừng xuyên núi thế nào lại lạc về đất Thái Nguyên, ai săn bắt cũng không được, người đến gần là ngựa tung chân đá tới tấp và phi như bay, biến trong loáng mắt.

Hôm ấy Cai Trung coi phu sửa chữa trên đường 3 thấy ngựa ăn cỏ nơi bìa rừng, lúc đầu tưởng ngựa có chủ thả rông, nhưng ngắm kỹ yên cương hàm thiếc không có, mình bám bụi đầy… biết ngay đây là ngựa lạc. Thế là Cai Trung mang một rá thóc đến gần và gọi to: “Mã hồng ! Mã Hồng, lại đây ăn thóc làm bạn cùng ta”. Tưởng chỉ đùa chơi nào ngờ con ngựa ngẩng cao đầu nhìn người một lúc, rồi chân giẫm miệng hí thong thả tiến lại cúi đầu nhai thóc, vui vẻ như gặp người thân… Từ đó mình và ngựa không thể rời nhau”.

Mới nghe tưởng Cai Trung nói bịa, nhưng việc cụ thể thấy đúng là như thế. Bởi vì chỉ mình ông nói ngựa mới nghe theo. Không có lệnh của Cai Trung ai trèo lên lưng nó sẽ tim mọi cách hất ngã, anh có là tay cưỡi ngựa siêu phàm nó cũng phi loanh quanh và khi biết không làm gì được anh nó sẽ lựa lúc lơi lỏng giây cương để giật mạnh và lăn đùng ra đất khiến anh có thể toạc trán vỡ đầu. Nhưng nếu Cai Trung vỗ nhẹ và bảo: “Mã Hồng ! Mã Hồng ! Đây là đồng chí của ta hãy đưa đi đến nơi về đến chốn” thì dù anh chưa biết cưỡi ngựa bao giờ vẫn có thể yên tâm nhẩy lên mình nó. Đã có một tên đạo chích được liệt vào hàng “kỵ sĩ” bị Mã Hồng cho một vố gẫy tay rách bụng trong một đêm định nẫng ngựa mang đi.

Đồng cấp nơi xa nghe Cai Trung gọi Mã Hồng cứ ngỡ ông Huyện đội Trưởng có bảo vệ riêng  thì nổi cơn ghen tỵ :

- Huyện đội Trưởng Văn Giang tự ý tuyển người bảo vệ. Ai cho phép ông ta được quyền như thế ? 

 II

                Đầu  tháng 1.1947, giặc Pháp tung quân đóng chốt tại Như  Quỳnh để khống chế đường 5 nối mạch chiến tuyến Hà Nội- Hải Dương-  Hải Phòng. Chúng liên tục càn quét sục xạo các  làng xóm xung quanh khu vực. Từ bên kia bờ sông chúng quạt trung liên sang các xã Nghĩa Trụ, Vĩnh Khúc. Bộ đội Huyện và du kích xã từ công sự bờ sông bên này thỉnh thoảng cũng bắn trả vài loạt.

Chiều hôm ấy, Cai Trung phi ngựa dọc sông quan sát  tình hình. Khi qua quãng trống thì địch phục kích bờ bên phát hiện, chúng quạt liên thanh vào ông liên hồi không dứt. Huyện đội Trưởng trúng đạn ngã từ mình ngựa xuống đất sóng soài. Mã Hồng ngoái cổ nhìn lại, liền nhẩy dựng cao hút địch xả súng bắn theo rồi biến vào sau luỹ tre làng vượt qua cánh đồng chiêm trũng và không ai nhìn thấy nữa.

Khi Cai Trung được băng bó, tỉnh lại không thấy ngựa đâu, ông khóc rưng rức như mất một của quí trên đời. Vết thương  vào phần mềm nên nhẹ, ông quyết định  ở lại cùng đồng đội bố phòng diệt địch.

*

Để tránh địch chiếm đóng càn quét, cơ quan Huyện đội chuyển dần ra vùng tự do. Trụ sở cũ đêm ấy chỉ còn mấy người ở lại thu xếp sáng sau rút nốt.

Mọi người vừa chợp mắt bỗng thấy ngoài cổng có tiếng xô cửa  rầm rầm và tiếng ngựa hí vang. Tưởng Huyện đội Trưởng đã về tất cả mọi người vùng dậy chạy ra. Cổng mở, chỉ thấy trơ một mình ngựa, chân đang nện mạnh xuống đất, miệng đang hí dồn khác hẳn mọi lần. Trên mình ngựa thì yên cương xộc lệch, hai mắt ngựa như có ngấn nước long lanh…

Linh tính như báo có việc chẳng lành. Một cán bộ được lệnh phải tức tốc lên đường. Anh vỗ vào trán  ngựa: “Mã Hồng ! Mã Hồng, đưa ta đến nơi Huyện đội Trưởng”. Lạ lùng thay, con ngựa cúi đầu vẫy đuôi chân không nện nữa,  tỏ ý tuân phục. Anh cán bộ thoáng phút phân vân vì lần đầu tiên ngựa cho người khác cưỡi không có lệnh chủ nhân. Song tình thế không thể làm khác, anh xốc lại bộ yên và nhẩy phắt lên lưng ngựa, nắm chặt giây cương, mặc cho Mã Hồng quay đầu phi vút vào đêm khuya tịch mịch.

Cả một vùng rộng lớn hai bên bờ sông đang trong cảnh địch càn, xóm làng  bên đường hoang tàn xơ xác, đây đó mấy ngôi nhà cháy vừa tàn còn toả mùi khét lẹt. Đêm đen vắng lặng tịnh không một tiếng chó sủa lợn kêu, dế giun i ỉ từ lòng đất  vọng lên như nỉ non than khóc. Không gian chứa đựng bao nỗi hãi hùng. Chỉ còn rộn lên tiếng chân ngựa phi cấp tập, biến hiện vụt qua trong khoảnh khắc.

Từ một làng xa xa đâu đó chợt nổi lên tiếng gà gáy đổ dồn. Mã Hồng đang chạy đột nhiên khựng lại rồi từ họng phát ra tiếng rên ư ử, hai chân dẫm thình thịch xuống nền đất. Anh cán bộ ngồi trên giật ngửa người ra sau. Chẳng hiểu chuyện gì, anh vội vàng nhảy xuống, rút súng cầm tay dò dẫm thận trọng… Con ngựa quay đầu hít dài như đánh hơi rồi thốt nhiên chồm lên hí to mấy tiếng vang động cả một vùng.

Cùng lúc ấy, Huyện đội Trưởng đang bố trí ém quân trên các địa hình mai phục. Ông dẫn hai tổ tam tam (6 người ) đi kiểm tra dọc bờ sông, dự định đến chỗ ngã ngựa hôm  qua. Nỗi đau đớn thương tiếc Mã Hồng vẫn thổn thức trong ông, bên tai như còn văng vẳng  những tràng đại liên xé gió bắn theo. Có thể Mã Hồng đã chết vùi chết dập, có thể bị thương đang ngắc ngoải nơi nao, cũng có thể ai đó coi là của bắt được lôi đi biệt tích.... Sự mất mát ấy còn nhức nhối trong ông hơn cả vết thương đang băng bó trên vai… Bỗng một đồng đội kêu khẽ:

- Có tiếng ngựa hí phía cầu, cảnh giác bọn Tây phục bên sông.

Nhưng Cai Trung lại reo to:

- Nó ! Chính nó rồi, nó lại về chỗ mình đã ngã… Các đồng chí theo tôi!

             Bảy bóng người lao nhanh trong sương đêm mù mịt .

              Anh Cán bộ Huyện Đội nghe rình rịch tiếng chân, vội nép vào bụi cây ven đường tay đặt trên cò súng : “6 viên đạn trong khẩu côn này, ít ra cũng 2 mạng giặc. Phải bảo vệ bằng được Mã Hồng cho Huyện Đội Trưởng” . Anh căng mắt nhìn về phía con ngựa, mong nó chạy nhanh đi nơi khác, nhưng chân nó càng dẫm mạnh hơn .

Vẳng tiếng Huyện đội Trưởng gọi gấp gấp như nghẹn lại: “Mã Hồng ! Mã Hồng !”. Lập tức vó ngựa rộn ràng phi nhanh về phía tiếng gọi...

 Cai Trung xô đến ôm đầu ngựa, hôn lấy hôn để vào má, xúc động nghẹn lời: “Đánh lạc hướng địch, mày đã cứu ta, mày đã cứu ta !”. Anh cán bộ Huyện đội phóng theo Mã Hồng cũng ôm choàng lấy Huyện đội Trưởng :

- Trời ơi ! Anh Trung. Thấy Mã Hồng đêm khuya về Huyện đội một mình, chúng tôi ngỡ anh gặp tai hoạ gì rồi . ..

Cai Trung cũng reo lên :

-         Anh Hốt ! Sao anh lại ở đây ?

Mọi người kéo vào ngôi nhà gần đó. Nghe kể chuyện về chú Mã Hồng ai cũng khen là con ngựa tinh khôn, trung thành, dũng cảm. Mấy anh du kích tìm ngay cho Mã Hồng ít ngô và một ôm cỏ non tươi .

III

 

             Những ngày cuối  năm Đinh Hợi (1947), trời sấm sì u ám như sắp có đợt gió mùa. Gần Tết Nguyên Đán rồi mà chẳng ai nghĩ đến, tất cả đang tập trung vào việc chuẩn bị chống phá một trận càn ác liệt .

             Quả nhiên, mới hửng sáng ngày 27 tháng chạp (9.1.1947) máy bay do thám đã ì ì bay dọc đường 5 rồi vòng lại hạ thấp độ cao ngó nghiêng bốn phía. Tiếng động cơ như xé màng tai, cây cối cửa nhà rung lên bần bật… Lúc sau pháo từ Gia Lâm, Phú Thuỵ nã về dồn dập rải khắp các làng Tam Kỳ, Đồng Tỉnh, Thọ Vực, Xuân Cầu… Bên kia sông Nghĩa Trụ các thôn Tuấn Dị, Nhạc Lộc cũng bùng bùng bốc cháy. Khắp ba hướng từ Vĩnh Khúc lên, Như Quỳnh xuống, đường 5 vào, súng địch nổ ran ran. Trên trời 2 chiếc cổ ngỗng gầm rú, nhào lộn bỏ bom xả đạn  lung tung bừa bãi. Lửa bốc ngùn ngụt, khói cộn lên từng đụn mù mịt một vùng. Tre nứa nổ hoà trong tiếng đạn bom  rầm rầm, lốp bốp. Từ khắp các ngả các hướng bộ đội huyện và du kích xã đánh trả quyết liệt ròng rã suốt ngày. Súng địch, súng ta đối nhau ròn rã. Tiếng “ A- la- sô” của địch, tiếng thét “Xung phong” của ta chốc chốc lại vang lên ở làng này xóm khác. Cuối ngày giặc phải khênh theo hơn 20 xác chết  để chạy tháo thân.

          Một quả bom  nổ cạnh nơi buộc Mã Hồng. Nó chỉ kịp rống lên mấy tiếng rồi gục ngã. Một dòng máu đỏ hoà vào nước đang từ mắt trào ra .

Đêm ấy, sau khi chôn cất các chiến sỹ hy sinh, Cai Trung và tiểu đội du kích huyện đến nơi Mã Hồng bị bom vùi. Ông và mọi người đặt xác Mã Hồng ngay ngắn trong hố bom sâu, tay ông lấp đất cho ngựa  mà mặt ông dàn dụa nước mắt. Ông cắm xuống đó một nắm hương, nói vắn tắt vài lời  với mọi người xung quanh, rồi ông dơ tay thét lớn: “Tiêu diệt giặc Pháp! Trả thù cho đồng đội hy  sinh!”. Tiếng đáp lại hận căm ngùn ngụt: “Tiêu diệt ! Tiêu diệt! Trả thù !  Trả thù !” .

Mọi người đi rồi mà vẫn thấy Huyện đội Trưởng bần thần đứng lại, đôi mắt nhoè nước trân trân nhìn mộ Mã Hồng....

 

Bài viết khác:

Những năm, tháng hào hùng của Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên trong kháng chiến chống Mỹ

Đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Cách mạng Tháng 8 năm 1945 ở Văn Giang

Bắt tên Phòng Nhì cắm chốt

Tin Văn Giang góp phần chiến thắng

Chuyện về những chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi trên đất Nhãn

Hào khí tháng Tư

Chuyện ở làng kháng chiến

Chuyện ở làng kháng chiến

Chuyện ở làng kháng chiến

 Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Diễn văn Khai mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII của đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Bí thư Tỉnh ủy
 Hưng Yên quê tôi - Vũ Văn Toàn
 Chiếc bút chì của bé: Thơ Nguyễn Khắc Hào- nhạc: Trần Thanh Tùng
 Đêm bé nằm mơ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Bùi Anh Tú
 Dế mèn: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Vũ Ngọc Tường
 Hạt mưa: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Thanh Phúc
 Chuyện kể về ông Sét: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Hoàng Trọng
 Hoa trăng: Thơ Nguyễn Khắc Hào; nhạc Trọng Tĩnh
 Hỏi - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Duy Quang
 Nếu đất là Mẹ - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc: Đỗ Hiển Vinh
 Ve Sầu - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lưu Hoàng Kim
 Trồng nụ trồng hoa - Thơ: Nguyễn Khắc Hào; nhạc Lương Nguyên
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hát ru
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Huyền thoại Nguyệt Hồ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Thơ cho con
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ:Lên Tam Đảo
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Em ơi mùa nhãn chín
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Chùa Chuông
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Bạn và thơ
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Tháng ba quê hương
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa Muống
 Tình khúc Nguyệt Hồ: Nguyễn Khắc Hào - Thanh Tùng
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Truyền thuyết tình yêu
 Thăm quê em
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hưng Yên một khúc sử ca
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Gửi người chơi đàn tranh
 Nguyễn Khắc Hào - Thơ: Hoa gạo

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HƯNG YÊN

Giấy phép xuất bản số: 140/GP-TTĐT cấp ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Số 14 Đường Chùa Chuông, Phường Hiến Nam, TP Hưng Yên, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 0321 3 551 414 -Fax: 0321 3 551 414
Email: tuyengiaohungyen2011@gmail.com  Website: www.tuyengiaohungyen.vn

Ghi rõ nguồn "tuyengiaohungyen.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.